
Print ISSN: 1859-4506
Tóm tắt Đặt vấn đề: Sa trực tràng là một trong những bệnh lành tính hậu môn trực tràng nhưng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống của người bệnh. Bệnh thường gặp ở khoa hậu môn trực tràng. Phẫu thuật nội soi thường dùng điều trị sa trực tràng vì xâm hại tối thiểu, ít đau sau mổ và thẩm mỹ, có tỉ lệ tái phát và biến chứng thấp, cải thiện chức năng ruột sau mổ. Phương pháp nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả phẫu thuật nội soi điều trị sa trực tràng. Hồi cứu các trường...
Tóm tắt Đặt vấn đề: Sỏi đường mật chính thường gặp là ống mật chủ (OMC) là bệnh lý phổ biến ở Việt Nam. Phẫu thuật nội soi (PTSN) để lấy sỏi qua OMC ngày càng được áp dụng rộng rãi trong điều trị bệnh sỏi mật. Kết hợp tán sỏi qua nội soi đường mật trong lúc phẫu thuật nhằm làm sạch sỏi đặc biệt là sỏi trên gan đang được áp dụng ở nhiều cơ sở. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu kết quả ứng dụng PTNS và nội soi tán sỏi qua OMC để điều trị sỏi...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2018.2.4Tóm tắt Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt khối tá tụy hiện nay vẫn là phương pháp điều trị triệt để nhất trong ung thư quanh bóng Vater. Vai trò của phẫu thuật nội soi đã được khẳng định là an toàn và có nhiều ưu điểm so với mổ mở. Cho đến nay đã có nhiều báo cáo về thành công của phẫu thuật này nhưng số lượng còn hạn chế và chưa được phổ biến rộng rãi. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giátính khả thi cũng như kết quả của phẫu thuật nội soi...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2018.2.3Tóm tắt Đặt vấn đề: Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phẫu thuật nội soi cắt nang ống mật chủ. Phương pháp nghiên cứu: Gồm 70 người bệnh nang ống mật chủ được chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2017. Kết quả: Thuận lợi: Thời gian phẫu thuật trung bình (219,79 ± 64,88 phút) ngắn hơn so với thời gian phẫu thuật của nhiều nghiên cứu khác. Không có người bệnh tái khám sau mổ từ 10 ngày đến 3 tháng có...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2018.2.5Tóm tắt Đặt vấn đề: Đánh giá kết quả ban đầu phẫu thuật nội soi ổ bụng với Rô bốt hỗ trợ tạo hình đường tiết niệu trên tại Bệnh viện Bình Dân. Phương pháp nghiên cứu: Số liệu thu thập từ 07 trường hợp (TH) được phẫu thuật nội soi ổ bụng với Rô bốt hỗ trợ tạo hình đường niệu trên, gồm các trường hợp tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản có hoặc không lấy sỏi bể thận, phẫu thuật cắt nối niệu quản tận- tận và cắm lại niệu quản vào bàng quang. Các...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2018.2.7