
Print ISSN: 1859-4506
Tóm tắt Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị bẹn ngày càng phổ biến rộng rãi với hai phương pháp TEP (totally extraperitoneal) và TAPP (transabdominal preperitoneal). Những trường hợp thoát vị bẹn có biến chứng việc lựa chọn phương pháp điều trị vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Với cách tiếp cận bên trong khoang phúc mạc phương pháp TAPP có lợi thế trong việc đánh giá tạng thoát vị, giảm tỉ lệ nhiễm trùng và hồi phục nhanh sau phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, lâm sàng mô tả,...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.3Tóm tắt Đặt vấn đề: Ung thư ruột non là khối u hiếm gặp, thường được chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn muộn khi biến chứng đã xảy ra. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư ruột non. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu 45 người bệnh (NB) ung thư ruột non nguyên phát được phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai từ 2012 đến 2016. Thu thập các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán trước mổ, mô...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.4Tóm tắt Đặt vấn đề: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Phương pháp nghiên cứu: 20 người bệnh được phẫu thuật nội soi cắt thận mất chức năng từ 8/2016 - 3/2020 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, nghiên cứu theo phương pháp mô tả, tiến cứu Kết quả: Thời gian mổ trung bình 100,25 ± 22 phút (80 - 180 phút), lượng máu mất trung bình 61,5 ± 26,6ml (30 - 100ml), thời gian...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.5Tóm tắt Đặt vấn đề: Dẫn lưu đường mật trước phẫu thuật cắt khối tá tụy làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn dịch mật. Câu hỏi nghiên cứu chúng tôi: ERCP dẫn lưu đường mật trước phẫu thuật ảnh hưởng thế nào đến tỉ lệ nhiễm trùng sau phẫu thuật cắt khối tá tụy. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca. Thời gian từ 01 tháng 9 năm 2018 đến 01 tháng 5 năm 2019, các trường hợp cắt khối tá tụy thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả:...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.7Tóm tắt Đặt vấn đề: Đánh giá kết quả điều trị chấn thương gan bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả 37 người bệnh chấn thương gan được chẩn đoán vỡ gan và điều trị bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ tháng 1 năm 2016 đến hết tháng 04 năm 2020. Kết quả: Nam 30 (81,1%), nữ 07 (18,9%); tuổi trung bình của người bệnh: 32,32 ± 11,053 tuổi (7 - 57 tuổi); tai nạn giao thông 67,6%;...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.9Tóm tắt Đặt vấn đề: Giới thiệu kỹ thuật tịnh tiến vị trí cắm niệu quản trong phẫu thuật điều trị tắc khúc nối bể thận niệu quản (KNBTNQ) do niệu quản cắm cao (NQCC). Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo 1 ca bệnh và tổng quan y văn. Kết quả: Người bệnh (NB) nam 5 tuổi, được chỉ định phẫu thuật điều trị tắc KNBTNQ trái. Trẻ được mổ mở sau phúc mạc đường mạn sườn trái, trong mổ thấy NQCC ở nửa trên bể thận khiến KNBTNQ bị gập gây tắc nghẽn. Chúng tôi tiến hành rạch ngang...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.10Tóm tắt Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng bao gồm: thứ nhất cắt trọn khối mạc treo trực tràng, thứ hai là phân tích cũng như nhận biết và bảo vệ hệ thần kinh tự động vùng chậu trong phẫu thuật. Tỷ lệ rối loạn chức năng tiết niệu sau phẫu thuật có thể lên tới 27%, rối loạn chức năng tình dục dao động từ 11% đến 55% tại Việt Nam hiện chưa có những báo cáo về những rối loạn về chức năng niệu dục sau phẫu thuật cắt toàn bộ mạc...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.12Tóm tắt: Đặt vấn đề: Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh đã được chứng minh là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả và làm giảm nguy cơ đột quỵ não ở người bệnh có hẹp động mạch cảnh ngoài sọ. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn còn một số bàn cãi về lợi ích và nguy cơ của phẫu thuật này. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá kết quả của phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh tại Bệnh viện Thống Nhất trong 15 năm với kinh nghiệm 1.200 trường hợp....
https://doi.org/10.51199/vjsel.2020.5.13