
Print ISSN: 1859-4506



Tóm tắt Đặt vấn đề: Trong các phương pháp phẫu thuật cắt thận để ghép thì phẫu thuật nội soi (PTNS) cổ điển là một trong những phương pháp ít xâm lấn tuy nhiên nó cũng bộc lộ những một số hạn chế trong một số tình huống như: người hiến có BMI cao, nhiều mạch máu... Từ tháng 05/2018, chúng tôi bắt đầu áp dụng phẫu thuật nội soi có sự hỗ trợ của robot trong lấy thận để ghép qua ngả phúc mạc. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, đánh giá các dữ...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.3Tóm tắt Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt đại - trực tràng cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với mổ mở, tuy nhiên vẫn còn hạn chế của đường mổ nhỏ lấy bệnh phẩm như đau vết mổ, nhiễm trùng, thoát vị... PTNS kết hợp lấy bệnh phẩm qua đường tự nhiên (NOSE) có nhiều ưu điểm hơn và đã được áp dụng ở nhiều trung tâm trên thế giới. Chúng tôi thông báo kết quả ban đầu 5 trường hợp được chúng tôi áp dụng kĩ thuật này. Đối tượng và phương pháp...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.4Tóm tắt Đặt vấn đề: Viêm tụy mạn là bệnh lý khá phổ biến. Quá trình canxi hóa của viêm tụy mạn gây ra sỏi tụy. Phẫu thuật điều trị sỏi tụy do viêm tụy mạn đặt ra khi người bệnh điều trị bảo tồn không đáp ứng hoặc kèm theo tổn thương khu trú ở tụy và các tạng lân cận. Phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị sỏi tụy do viêm tụy mạn mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh và được ứng dụng ngày càng nhiều trên thế giới, tuy nhiên số lượng báo cáo tại...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.5Tóm tắt Đặt vấn đề: Đánh giá kết quả bước đầu, tính khả thi, an toàn và triệt căn của phẫu thuật nội soi hoàn toàn cắt hang môn vị dạ dày nạo vét hạch D2 nối lưu thông tiêu hoá theo Billroth II tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu. Bao gồm 15 người bệnh được phẫu thuật nội soi hoàn toàn cắt hang môn vị dạ dày, nạo vét hạch D2, nối lưu thông tiêu hóa theo Billroth II tại Bệnh viện Hữu nghị Đa...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.6Tóm tắt Đặt vấn đề: Bước đầu đánh giá tính khả thi và an toàn về mặt kỹ thuật cũng như ung thư học của phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo trực tràng từ đường hậu môn trong điều trị ung thư trực tràng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu. Gồm 23 người bệnh ung thư biểu mô tuyến trực tràng giai đoạn T ≤ 3, N ≤ 1, M0 được phẫu thuật từ 2012 đến 2018 tại Bệnh viện TW Huế. Phẫu thuật được tiến hành trên hai phương thức: Phẫu...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.7Tóm tắt Đặt vấn đề: Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là loại ung thư đứng hàng thứ 3 trong các loại ung thư ở Việt Nam. Trước đây, di căn xa do UTĐTT thường chỉ được điều trị triệu chứng, và tỉ lệ sống còn của người bệnh chỉ khoảng 5% sau 5 năm. Gần đây, phẫu thuật cắt gan di căn với mục đích triệt để đã cho kết quả rất đáng khích lệ với tỉ lệ sống còn sau 5 năm lên đến > 50%. Hiện nay, chưa có khuyến cáo cụ thể cho chọn lựa cắt...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.8Tóm tắt Việc chẩn đoán trước mổ vỡ đại tràng do chấn thương bụng kín thường khó khăn dẫn đến điều trị muộn, hậu quả làm tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong. Chúng tôi báo cáo một trường hợp vỡ đại tràng xích ma dưới thanh mạc ở một người bệnh nam 51 tuổi, được chẩn đoán sớm nhờ thăm khám lâm sàng kỹ càng và các dấu hiệu gợi ý rất có giá trị trên phim cắt lớp vi tính . Chúng tôi thấy rằng: cắt lớp vi tính là một phương tiện có giá trị để...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.9Tóm tắt Tạo hình hộp sọ bằng tấm lưới titan được sử dụng nhiều trong phẫu thuật sọ mặt. Các biến chứng của phẫu thuật tạo hình che phủ khuyết sọ hay gặp là nhiễm trùng. Da đầu mỏng dần và teo tổ chức phần mềm là một yếu tố nguy cơ đáng kể gây lộ vật liệu tạo hình. Việc sử dụng các vạt vi phẫu trong tạo hình đầu mặt cổ đã được báo cáo trong y văn, mặc dù vậy việc tạo hình vùng trán, da đầu vẫn là một thách thức do phải đảm bảo chức...
https://doi.org/10.51199/vjsel.2021.4.10